ALSOBEN
( Misoprostol 200mcg )
NHÀ SẢN XUẤT: UNIMED PHARMACEUTICALS INC – KOREA
MIFE-200
( Mifepristone 200mg )
NHÀ SẢN XUẤT: CÔNG TY CP DP TW1 (PHARBACO) – VIỆT NAM
PHÂN PHỐI: CÔNG TY TNHH DƯỢC PHẨM HIỀN VĨ
CÔNG TY TNHH TM DƯỢC PHẨM MINH HIỀN
1
[Nghiên cứu lâm sàng đa trung tâm tại Trung Quốc nhằm xác định hiệu quả gây sẩy thai trong 3 tháng đầu thai kỳ của liệu pháp kết hợp mifepristone với misoprostol và mifepristone với PG05]
Sang GW, Weng LJ, Shao QX, Du MK, Wu XZ, Lu YL, Cheng LN.
Viện hàn lâm y học Zhejiang, Hangzhou.
Nghiên cứu đa trung tâm được tiến hành tại Trung Quốc nhằm so sánh hiệu quả gây sẩy thai sớm trong 3 tháng đầu thai kỳ (mất kinh =49 ngày) và tác dụng phụ giữa 2 nhóm điều trị : mifepristone với misoprostol và mifepristone với PG05. 600 thai phụ đồng ý dùng thuốc phá thai được chia thành 3 nhóm .
Nhóm I :(n=301 ) ban đầu dùng 50mg mifepristone, sau đó cứ 25 mg mỗi 12 giờ (đến tổng liều 150 mg mifepristone), thêm 1 liều đơn (uống) misoprostol 600mcg vào buổi sáng ngày thứ 3.
Nhóm II (n=150) dùng như nhóm I nhưng thay misoprostol bởi DL-15-methyl PGF2 alpha (Pg05) 1 mg đặt âm đạo trong ngày thứ 3 .
Nhóm III (n=149) dùng liều duy nhất 200 mg mifepristone và misoprostol 600mcg được dùng như nhóm I.
Kết quả nghiên cứu cho thấy tỉ lệ thành công lần lượt: 94.4%, 97.3% và 94.6% cho nhóm 1,2,3 tương ứng 3.0, 2.0 và 2.7% sẩy thai không hoàn toàn và 1.7, 0.7 và 2.0 thai phụ ở cả 3 nhóm thất bại hoàn toàn ; 1% còn lại ở nhóm I và 0.7% ở nhóm III hiệu quả điều trị không được xác định rõ. Sự khác biệt là không có ý nghĩa giữa 3 nhóm nghiên cứu.
Tác dụng phụ chủ yếu: đau bụng dưới gặp ở 82% bệnh nhân sau khi dùng PGs. Tỉ lệ tiêu chảy ở nhóm PG05 là 38.7% cao hơn so với 2 nhóm còn lại (21.6 và 20.1%), sự khác biệt là có ý nghĩa thống kê (P<0.001) và tỉ lệ nôn cũng vậy.
Kết luận, hiệu quả của misoprostol tương đương với Prostaglandin đường uống. Liệu pháp phối hợp với mifepristone với misoprostol để gây sẩy thai trong ba tháng đầu thai kỳ hiệu quả tương đương PG05 đặt âm đạo (thuốc đạn) kết hợp với mefepristone.
Bên cạnh đó, misoprostol còn có nhiều ưu điểm khác như :tiện dụng, ít tác dụng phụ, dễ vận chuyển &bảo quản và giá thành thấp.
2
Contraception 2000 Jan;61(1):41-6
[Liều nhỏ mifepristone phối hợp với misoprostol đặt âm đạo (dùng sau 48giờ ) gây sẩy thai đối với những thai dưới 63 ngày tuổi ].
Mục tiêu nghiên cứu nhằm so sánh hiệu quả, tác dụng phụ của 1/3 liều chuẩn mifepristone 200mg và đặt âm đạo 800mcg misoprostol gây sẩy thai trên những thai = 56 ngày tuổi cùng với nhóm thai phụ có thai 57-63 ngày tuổi. Một thử nghiệm lâm sàng đa trung tâm trên những phụ nữ khỏe mạnh =18 tuổi với tuổi thai = 63 ngày (những thai phụ này muốn phá thai). Thai phụ được chỉ định uống 200mg mifepristone, sau đó đặt âm đạo 800mcg misoprotol, 1-4 ngày sau kiểm tra lại bằng siêu âm. Nếu cần thiết có thể dùng misoprosto liều nhắc lại. Can thiệp phẫu thuật (nạo thai) được chỉ định trong những trường hợp: thai vẫn phát triển, xuất huyết quá nhiều hoặc vẫn sót thai sau 5 tuần. Trong 1137 thai phụ có 829 người có thai dưới 56 ngày tuổi và 308 người có thai 57-63 ngày tuổi. Trong số đó có 34 trường hợp phải nạo thai và 16 trường hợp không theo dõi được. Tỉ lệ thành côngù là 97% ở nhóm có thai = 56 ngày tuổi và 96% ở nhóm 57-63 ngày tuổi. 88% ở nhóm có thai dưới 56 ngày tuổi và 92% ở nhóm 57-63 ngày tuổi có chảy máu trong vòng 4 giờ sau khi đặt âm đạo misoprostol.
So sánh giữa các nhóm thai =56 ngày tuổi với nhóm 57-63 ngày tuổi, có rất ít trường hợp có tiêu chảy (khoảng 20% và 29%, p=0,002), nôn (khoảng 33% và 44%, p=0.001). Mặc dù vậy, phản ứng phụ có thể chấp nhận đến 82% trên cả 2 nhóm nghiên cứu. Có 1 trường hợp thai = 56 ngày tuổi phải truyền máu do chảy máu nhiều. Mặc dầu, chảy máu (p=0.01) và đau bụng dưới (p=0.02) gặp nhiều hơn ở nhóm thai phụ 57-63 ngày tuổi, 91% thai phụ ở cả 2 nhóm cho là thuốc có thể dùng được. Tóm lại, liều thấp 200mg mifepristone kết hợp với 800mcg misoprotol đặt âm đạo sau 48 giờ (tại nhà) có hiệu quả gây sẩy thai cao và có thể chỉ định được cho những thai phụ có thai =63 ngày tuổi. Do đó, con số phụ nữ muốn dùng thuốc để phá thai tăng lên.
3
N Engl J Med 1993 May 27; 328 (21):1560-13
Trích dẫn trong: N Engl J Med 1993 May 27; 328 (21):1560-1
[Gây sẩy thai trong ba tháng đầu thai kỳ với mifepristone (RU 486) và misoprostol uống]
Medical Dept., Lab., Roussel, Paris, France.
Cơ sở và phương pháp nghiên cứu:
Sự kết hợp giữa mifepristone (RU 486) với một dẫn xuất tương tự prostaglandin dùng tiêm bắp hoặc đặt âm đạo có hiêùu quả gây sẩy thai vào kỳ đầu của thai kỳ. Tuy nhiên, nếu chỉ dùng Prostaglandin thì có nhiều bất lợi cũng như tác dụng phụ. Do đó, chúng tôi đã tiến hành 2 nghiên cứu để chứng minh hiệu quả của mifepristone 600mg kết hợp với liều nhỏ misoprostol- dẫn xuất của Protaglandin E1 dùng đường uống.
ở nghiên cứu đầu tiên trên 505 phụ nữ bị chậm kinh dưới 50 ngày được chỉ định 400 mcg misoprotol 48 giờ sau khi dùng mifepristone. Có thể dùng liều nhắc lại 400mcg misoprostol nếu không sổ thai trong khoảng thời gian sau đó.
Nghiên cứu thứ hai: gồm 390 thai phụ với chỉ định ban đầu như nghiên cứu thứ nhất, nếu thai không sổ trong vòng 4 giờ sau khi chỉ định misoprostol sẽ được dùng liều nhắc lại 200mcg misoprostol.
Kết Quả:
ở nghiên cứu thứ nhất, tỉ lệ thành công (sổ thai hoàn toàn) là 96.9% ( độ tin cậy khoảng 95%, từ 94,1 % đến 97,7%) tương đương với tỉ lệ thành công (95%) của mifepristone phối hợp với prostaglandin tiêm bắp hoặc đặt âm đạo. 2,9% thai phụ sổ thai trong vòng 48giờ sau khi dùng mifepristone, 60,9% trong vòng 4 giờ sau khi dùng misoprostol, 33,2% sổ thai sau 4 giờ dùng misoprostol. 4 thai phụ thất bại hoàn toànù (0,8%) và 9 thai phụ sổ thai không hoàn toàn (1,8%); 2 thai phụ phải nạo hút thai do chảy máu tử cung kéo dài (0,4%).
ở nghiên cứu thứ hai, 5,5% thai phụ sổ thai trước khi chỉ định misoprostol và 69,1% sổ thai trong vòng 4 giờ sau khi được chỉ định liều đầu tiên misoprostol. Trong số 71 thai phụ được chỉ định liều nhắc lại misoprostol, có 67 trường hợp sẩy thai hoàn toàn, 2 thai sổ không hoàn toàn, 1 trường hợp dính thai và 1 trường hợp thai lạc chỗ. Có 1 ca phải hút thai trong số 27 thai phụ từ chối dùng liều nhắc lại misoprostol. Tỉ lệ thành công trên những thai phụ không bắt buộc dùng liều thứ 2 misoprostol là 98,7% (độ tin cậy 95% , 96,8% đến 99,5%). Không có bất kỳ tác dụng phụ nghiêm trọng nào xảy ra.
Kết Luận:
Sự phối hợp tuyệt vời giữa mifepristone với misoprostol cho hiệu quả sổ thai cao, dễ dung nạp, an toàn và thiết thực.
4
Eur J Contracept reprod Health Care 2000 Sep.,5(3):171-6
[Một nghiên cứu ngẫu nhiên so sánh hiệu quả gây sẩy thai đối với những thai dưới 3 tháng phối hợp mifepristone và misoprostol uống hoặc misoprostol đặt âm đạo]
Aubeny E,Chatellier G.
Orthogenic Center, Broussais Hospital, Paris, France.
Tại Pháp, mifepristone phối hợp với misoprostol đường uống được sử dụng rộng khắp để gây sẩy thai sớm (thai kỳ đến 49 ngày tuổi).
ở một số Trung Tâm khác, mifepristone phối hợp với misoprostol đặt âm đạo cũng được sử dụng phổ biến. Mục tiêu của nghiên cứu này nhằm so sánh hiệu quả và độ dung nạp khi phối hợp mifepristone với misoprostol đường uống hoặc mifepristone với misoprostol đặt âm đạo để phá thai dưới 49 ngày tuổi. 237 thai phụ tham gia nghiên cứu này, tất cả đều được chỉ định liều : 600mg mifepristone (uống) phối hợp với 400mcg misoprostol uống (n=119) hoặc đặt âm đạo (n=118). Nếu thai không sổ trong vòng 3 giờ thì chỉ định liều nhắc lại 400mcg misoprostol. Những thai phụ được chọn ngẫu nhiên tuỳ theo ngày họ đến phá thaiù. Tỉ lệ thành công là 98,7% và không có sự khác biệt đáng kể về hiệu quả trên 2 nhóm. Chỉ duy nhất 1 trường hợp thất bại ở nhóm dùng phối hợp với misoprostol đường uống. Với những thai phụ mà thai sổ trong vòng 3 giờ dùng liều đầu tiên misoprostol thì đường chỉ định misoprostol không ảnh hưởng đến thời gian sổ thai. ở những thai phụ phải đặt âm đạo liều thứ 2 misoprostol thì thời gian sổ thai ngắn hơn so với nhóm dùng liều nhắc lại bằng đường uống (52 phút so với 77phút). ở cả 2 nhóm, đường uống được ưa chuộng hơn.
5
[Gây sẩy thai trên thai phụ có thai từ 10 đến 16 tuần tuổi bằng mifepristone phối hợp misoprostol].
Cheng L.
Shanghai Institute of Fasmily Planning Technical Instruction,Shanghai 200030.
MụC TIêU:
Tìm ra liệu trình phối hợp tối ưu của mifepristone với misoprostol để gây sẩy thai trên những thai phụ có thai từ 10 đến 16 tuần tuổi.
PHươNG PHáP
Nghiên cứu so sánh ngẫu nhiên trên 2.007 thai phụ có yêu cầu phá thai (10-16 tuần tuổi) tại 24 bệnh viện ở Thượng Hải. Các thai phụ được chia ngẫu nhiên thành 4 nhóm:
Nhóm I (n=511) dùng mifepristone đường uống, liều 75mg / ngày x 2 ngày (Tổng liều 150mg) và 48 giờ sau chỉ định tiếp 0,6 mg misoprostol (uống) mỗi 3-4 giờ x 3 lần.
Nhóm II (n=491) dùng mifepristone đường uống, liều 100mg /ngày x 2 ngày (tổng liều 200mg) và sau 48 giờ cũng dùng liều misoprostol như nhóm I.
Nhóm III (n=519) dùng như ở nhóm I và sau 48 giờ chỉ định đặt âm đạo misoprostol 12giờ/ lần x 3 lần.
Nhóm IV(n=486) chỉ định liều mifepristone như nhóm II và sau 48 giờ dùng liều đặt misoprostol như nhóm III.
KếT QUả:
Tỉ lệ gây sẩy thai thành công ở nhóm I, II, III, IV lần lượt: 88,6%, 89,4%, 90,9%, 94,0%.
Tỷ lệ hành công ở nhóm IV cao hơn ở nhóm I và II, khác biệt có ý nghĩa thống kê (P<0,05). Liều trung bình misoprostol (đặt âm đạo) thành công cũng như tỉ lệ tác dụng không mong muốn thấp hơn nhiều so với đường uống (P<0,01)
KếT LUậN:
Chỉ định phối hợp uống 200mg Mifepristone với misoprostol đặt âm đạo là một giải pháp tối ưu để gây sẩy thai trên những thai phụ có thai từ 10 đến 16 tuần tuổi.
6
[Gây sẩy thai trong 3 tháng đầu bằng Mifepristone kết hợp với misoprostol đặt âm đạo
Bộ môn sản phụ khoa, Viện Đại học Arrhus, Skejby, Đan mạch. UBK@dadlnet.dk]
Mục tiêu của nghiên cứu nhằm đánh giá hiệu quả và tác dụng phụ khi dùng Mifepristone kết hợp với Misoprostol gây sẩy thai dưới 3 tháng. Thuốc phá thai được giới thiệu lần đầu tiên vào 12-1997 (tại Đan Mạch) và phương pháp phá thai bằng thuốc ngày một phổ biến ở Đan Mạch. Nghiên cứu được tiến hành trên 100 thai phụ có thai từ 33 đến 56 ngày tuổi có yêu cầu phá thai bằng thuốc. Tất cả đều được nhận liều như nhau: uống 600 mg mifepristone (RU 486), 2 ngày sau đặt âm đạo 400 mcg misoprostol.
Kết quả: Gây sẩy thai hoàn toàn và không có ca nào phải can thiệp bằng phẫu thuật (nạo thai).
Tỉ lệ gây sẩy thai là 93%, ít tác dụng phụ, độ dung nạp cao. 90% thai phụ có thai ngoài ý muốnù thích dùng thuốc phá thai hơn. Sự kết hợp giữa mifepristone uống với misoprostol đặt âm đạo vừa hiệu quả, an toàn lại ít tác dụng phụ và được các thai phụ ở Đan Mạch tin dùng.
7
[Gây sẩy thai vào đầu thai kỳ với sự phối hợp giữa giảm liều uống mifepristone và misoprostol đặt âm đạo]
Anjum ZK.
Bệnh viện Northern General, Sheffield, Anh.
Mục tiêu:
Nhằm xác định hiệu quả gây sẩy thai trên thai phụ khi phối hợp giảm liều uống mifepristione với misoprostol đặt âm đạo.
Phương pháp nghiên cứu
Hồi cứu lại quá trình dùng thuốc gây sẩy thai trên 369 thai phụ.
Nơi hồi cứu:
Bệnh viện Northern General, Sheffied, Anh quốc.
Đối tượng :
Tất cả các thai phụ đã được dùng thuốc để phá thai (với tuổi thai dưới 63 ngày) giữa10-1996 và 12-1997.
Can thiệp:
Thai phụ được dùng 200mg mifepristone đường uống, 36-48 giờ tiếp theo dùng misoprostol đặt âm đạo ( hai liều misoprostol 400mcg, mỗi liều cách nhau 2 giờ).
Thai phụ này được phép về nhà sau 6 giờ dùng liều misoprostol đầu tiên.
Nếu thai không sổ trước khi về nhà thì bệnh nhân phải đến bệnh viện nếu không xuất huyết trong vòng 4 ngày.
Đánh Giá Kết Quả:
Chủ yếu dựa vào số thai phụ cần phải nạo thai và số thai phụ mà thai nhi vẫn tiếp tục pháp triển sau khi thực hiện đầy đủ liệu pháp.
Kết Quả:
Trong số 369 thai phụ :
-345 thai phụ (93,49%) sổ thai hoàn toàn trong vòng 6 giờ mà không cần bất kỳ sự can thiệp nào khác.
-2.15 % thai phụ sổ thai hoàn toàn trong vòng 4 ngày sau khi dùng thuốc.
-4.36 % thai phụ phải nạo thai
Tính chung tỉ lệ gây sẩy thai thành công là 95,64% và không có trường hợp nào gặp biến chứng nghiêm trọng.
Kết Luận:
Phương pháp phối hợp giữa mifepristone uống với misoprostol đặt âm đạo vừa hiệu quả vừa an toàn với chi phí có thể chấp nhận được.
8
Zhonghua Fu Chan Ke Za Zhi 1999 Jun;34(6):327-30
[Một thử nghiệm ngẫu nhiên, mù đôi, đa trung tâm nhằm so sánh hiệu quả ngừa thai khẩn cấp giữa Levonorgestrel và Mifepristone]
Wu S, Wang C, Wang Y.
National Research Institute for Family Planning, Beijing 100081.
Mục tiêu:
Nhằm so sánh hiệu quả, tác dụng phụ và ảnh hưởng đến chu kỳ kinh kế tiếp của Levonorgestrel (LNG) với mifepristone liều thấp trong ngừa thai khẩn cấp.
Phương Pháp:
Đây là thử nghiệm so sánh ngẫu nhiên mù đôi đa trung tâm. Đối tượng nghiên cứu là phụ nữ không dùng bất cứ biệm pháp bảo vệ khi giao hợp (trong vòng 72 giờ sau). Được phân ra thành 2: nhóm LNG và nhóm mifepristone.
Nhóm LNG, chỉ định: 0,75mg LNG x 2 lần/ 12 giờ.
Nhóm Mifepristone, chỉ định: liều đơn 10mg mifepristone và 1 viên placebo sau 12 giờ.
Những bệnh nhân này được kiểm tra lại vào ngày thứ 7 của kỳ kinh kế tiếp nhằm định giá hiệu quả ngừa thai và ghi lại các tác dụng không mong muốn cũng như tình trạng kinh nguyệt. Hiệu quả ngừa thai được đánh giá theo phương pháp Dixon.
Kết Quả:
Số đối tượng nghiên cứu ở nhóm LNG là 643 người và nhóm Mife là 633 người.
Trong đó có 20 và 9 ca có thai ở nhóm: dùng LNG và nhóm dùng Mifepristone (Tỉ lệ thất bại 3,1% và 1,4% ).
Tỉ lệ ngừa thai lần lượt 59,2% và 79,7%, sự khác biệt mang tính thống kê ( với P<0,05). Tỉ lệ phản ứng phụ khác biệt dưới 10% và thường là nhẹ. Tỷ lệ bệnh nhân có kỳ kinh kế tiếp trước hoặc sau ngày dự kiến 3 ngày ở nhóm LNG và nhóm Mife. lần lượt 95,0% và 93,3%.
Kết Luận:
Dùng Levonorgestrel hoặc liều nhỏ mifepristone để tránh thai khẩn cấp, vừa hiệu quả lại an toàn.
9
[Mifepristone:’’ một thuốc tránh thai tiềm năng sau khi giao hợp’’.
Ho PC.
Bộ môn sản phụ khoa, Đại học Hồng Kông.
pcho@hkusub.hku.hk]
Mifepristone là chất đối kháng cạnh tranh mạnh tại receptor của Progesterone. Nếu sử dụng liều đơn mifepristone vào giữa hoặc cuối giai đoạn nang, nó sẽ làm giảm hoặc ức chế tiết LH. Nếu dùng vào đầu giai đoạn hoàng thể, mifepristone sẽ làm biến đổi nội mạc tử cung màứ không ảnh hưởng đến nồng độ hormon hoặc chu kỳ kinh nguyệt. Nếu dùng vào giữa giai đoạn hoàng thể cũng sẽ tạo ra sự thay đổi đáng kể ở nội mạc tử cung và một vài người ra máu âm đạo hai lần trong một tháng. Một nghiên cứu trên lâm sàng khuyên nên dùng mifepristone vào đầu pha hoàng thể vì nó có tác dụng như một tác nhân ngừa thai. Mifepristone có thể được dùng đơn lẻ hay phối hợp với một prostaglandin (Prostaglandin không có tác dụng ngừa thai).
Khi phối hợp mifepristone với prostaglandin sẽ trở thành một liệu pháp hữu hiệu để điều hoà kinh nguyệt. Tuy nhiên, giá thành và phản ứng phụ của prostaglandin là những nguyên nhân làm giới hạn sử dụng.
Mifepristone còn là một sự lựa chọn hữu hiệu để ngừa thai khẩn cấp. Tác dụng không mong muốn của nó ít hơn so với liệu trình Yuzpe. Nếu giảm liều mifepristone từ 600mg xuống 10mg cũng không làm giảm hiệu quả của nó. Tuy nhiên, nó sẽ làm chậm chu kỳ kinh kế tiếp.
Dù hiệu quả của mifepristone đã được chứng minh nhưng một vài nơi vẫn chưa cho phép lưu hành và giới hạn chỉ định.
10
Zhonghua Fu chan Ke Za Zhi 1999 Jun; 34(6):335-8
[Liều nhỏ Mifepristone có hiệu quả ngừa thai khẩn cấp]
Cheng L, Tong C, Xiao Z.
Shanghai Institute of Family Planning Technical Instruction, International Peace Maternity & Child Health Hospital, Welfare Institute, Shanghai 200030.
Mục Tiêu:
Nhằm nghiên cứu hiệu quả tránh thai khẩn cấp của mifepristone với 3 liều nhỏ khác nhau, tác dụng phụ và sự ảnh hưởng lên chu kỳ kinh kế tiếp.
Phương Pháp:
Nghiên cứu ngẫu nhiên được được thực hiện ở Thượng Hải với 639 phụ nữ có vòng kinh ổn định và tiền sử giao hợp không dùng các biệm pháp tránh thai (trong vòng 120 giờ sau giao hợp) tham gia nghiên cứu. Những phụ nữ này được chia ngẫu nhiên ra thành 3 nhóm:
-Nhóm I (n=214) uống 50 mg mifepristone,
-Nhóm II (n=214) uống 25 mg mifepristone
-ứNhóm III (n=211) uống 10 mg mifepristone.
Kết Quả:
Tổng số có 8 ca mang thai: 2 ở nhóm I, 1 ở nhóm II và 5 ở nhóm III.
Sau khi hiệu chỉnh vì sai phương pháp thì chỉ có 1 ca mang thai trong mỗi nhóm.
Hiệu quả phá thai ở từng nhóm lần lượt: 93,4%, 93,3% và 93,8%. Tác dụng phụ của mifepristone nhẹ và dung nạp tốt, không có sự khác nhau đáng kể giữa nhóm dùng liều 50mg với các nhóm dùng liều thấp hơn (25mg, 10 mg, P<0,05).
Khoảng 12-14% phụ nữ thấy kinh sớm hơn dự kiến và 25-28% muộn hơn dự kiến. Tuy nhiên, không có sự khác biệt đáng kể giữa 3 nhóm trên. Số ngày trung bình chậm kinh ở nhóm I dài hơn đáng kể so với nhóm III (P<0,05).
Kết Luận:
Tất cả 3 liều nhỏ mifepristone (50mg, 25mg và 10mg), đều dùng được để ngừa thai khẩn cấp.
11
Hum Reprod 1999 Nov;14(11):2788-90
[Tác động ngừa thai khi dùng liều hằng ngày 0,5 mg mifepristone ]
Marions L, Viski S, Danielsson KG, Resch BA, Swahn ML, Bygdeman M, Kovacs L.
Ban sức khỏe bà mẹ và trẻ em, Bộ môn sản phụ khoa, Đại học Karolinska, S-171 76 Stockholm, Thụy Điển.
Mifepristone là chất kháng progestin và được dùng như một thuốc ngừa thai. Nếu dùng 200mg mifepristone ngay sau khi rụng trứng, sẽ bị ức chế sự phát triển niêm mạc tử cung. Dùng mifepristone với liều nhỏ hằng ngày sẽ làm giảm một số yếu bố cục bộ, những yếu tố này được xem là yếu tố cốt lõi cho sự làm tổ của thai nhi trong niêm mạc tử cung.
Để đánh giá một cách chính xác hiệu quả ngừa thai của mifepristone, một nhóm 32 phụ nữ được tham gia nghiên cứu. Tất cả đều được uống hằng ngày 0,5 mg mifepristone. Tổng số gồm 141 chu kỳ kinh được theo dõi. 5 trường hợp có thai ít hơn đáng kể so với những trường hợp không áp dụng bất kỳ phương pháp ngừa thai nào. Tuy nhiên, với liều lựa chọn này dường như không đủ hiệu quả như một thuốc tránh thai thực thụ.
Nếu tăng liều sẽ gây rối loạn sự rụng trứng và chu kỳ kinh nguyệt.
12
Hum Reprod 2001 Jun; 16(6): 1145-50
Tính khả thi của chỉ định Mifepristol như một thuốc tránh thai dùng một tháng một lần
Hapangama DK, Brown A, Glasier AF, Baird DT.
Nhiều phụ nữ có ý tưởng dùng mifepristone mỗi tháng 1 lần để ngừa thai. Quả là một điều thú vị, vậy thực hư thế nào?
Mifepristone được chứng minh có tác dụng ngừa thai nếu dùng vào đầu pha hoàng thể. Chúng tôi đã thử nghiệm hiệu quả tránh thai của 200 mg mifepristone vào ngày Hormon hoàng thể + 2 trên 32 phụ nữ có đặt máy theo dõi nhằm xác định sự tăng của LH và bổ sung thêm một nhóm chứng gồm 20 phụ nữ đang muốn có thai. Trong nhóm này, 12 phụ nữ đã thụ thai trong thời gian tham gia nghiên cứu, tổng số là 50 chu kỳ kinh được kiểm tra (xác suất mang thai: 0,25-0,32). Trong tổng số 178 chu kỳ kinh trên số phụ nữ tham gia nghiên cưú có 2 trường hợp mang thai ( P= 0,01). Sự tăng LH không được phát hiện ra trong 34 chu kỳ (19,1%). Trong 20 chu kỳ (11,2%) không hoàn chỉnh trong đó 14 chu kỳ máy theo dõi hỏng (7,9%). Dùng Mifepristone vào đầu pha hoàng thể không ảnh hưởng đến chu kỳ kinh nguyệt. Tuy nhiên, một số phụ nữứ có lượng máu ra trong kỳ kinh ít (chiếm 15%). Nếu dùng mifepristone 1 lần/tháng (đặc biệt nếu dùng vào đầu pha hoàng thể) sẽ cho tác dụng tránh thai hữu hiệu mà tác dụng phụ lại tối thiểu.
13
Zhonghua Fu Chan Ke Za Zhi 1996 Oct; 31(10):624-6
[Điều trị u xơ tử cung với hai liều mifepristone khác nhau].
Yang Y, Zheng S, Li K.
Fisrt Affiliated Hospital of Beijing Medical Unversity.
Mục tiêu:
Nhằm nghiên cứu đáp ứng của u xơ tử cung đối với 2 liều khác nhau mifepristone dùng hàng ngày.
Phương pháp:
Thử nghiệm lâm sàng tiến cứu không ngẫu nhiên trên những phụ nữ có triệu chứng u xơ tử cung đã được kiểm soát. 28 bệnh nhân đã được điều trị với liều 10mg và 15 bệnh nhân với liều 20mg mifepristone hàng ngày trong 12 tuần, bắt đầu từ ngày thứ 1 đến ngày thứ 3 của chu kỳ kinh nguyệt. Những thay đổi về kích thước của khối u và tử cung được xác định bằng siêu âm trước khi điều trị (gọi là giới hạn đầu) và hàng tháng trong suốt quá trình trị liệu.
Các xét nghiệm máu để định lượng hemoglobin, chức năng gan, chức năng thận được tiến hành hàng tháng.
Kết quả: Cả hai nhóm bệnh nhân điều trị bằng mifepristone hàng ngày với liều lượng khác nhau đều không có chu kỳ của buồng trứng và các triệu chứng đau bụng kinh, đau vùng bụng dưới biến mất. Tất cả các triệu chứng và dấu hiệu thiếu máu cũng không còn. Nồng độ hemoglobin trung bình tăng lên 14-16g/L. Sau 12 tuần điều trị mifepristone, kích thước của u xơ tử cung đã giảm tới 41.1% so với ban đầu ở nhóm dùng liều 10mg và 43.0% ở nhóm dùng 20mg mỗi ngày. Như vậy, không có sự khác nhau đáng kể trong hai nhóm điều trị; các phản ứng phụ cũng như vậy.
Kết luận: Dùng Mifepristone với liều 10mg mỗi ngày được xem như liều lý tưởng để điều trị u xơ tử cung. Liệu pháp mifepristone cũng được chỉ định trong các trường hợp u xơ lớn hơn, và /hoặc như là phương thuốc bổ trợ trước phẫu thuật cho các bệnh nhân thiếu máu nặng hoặc đang trong giai đoạn tiền mãn kinh có dấu hiệu u xơ tử cung.
14
Hum Reprod 1994 Jun;9 Suppl 1:116-20
[Hiệu quả lâm sàng của kháng progesterone-RU 486 trong điều trị lạc nội mạc tử cung và u xơ tử cung]
Kettel LM, Murphy AA, Morales AJ, Yen SS.
Department of Reproductive Medicine, University of California, San Diego, La Jolla 92093.
Nhằm đánh giá tác động lâu dài của quá trình điều trị bằng RU 486 và kiểm tra hiệu quả của nó trong điều trị lạc nội mạc tử cung. Một thử nghiệm trong 3 tháng được tiến hành để đánh giá hiệu quả của liều hàng ngày 100mg RU 486 (khoảng 2mg/kg/ngày) trên chức năng hoạt động của cơ quan sinh sản, cũng như sự tái tạo mô trên những bệnh nhân có triệu chứng lạc nội mạc tử cung. Tất cả các phụ nữ tham gia nghiên cứu đã bị mất kinh. Tuy nhiên, sự ức chế buồng trứng là không hoàn toàn. Trong 24 giờ lấy mẫu, nồng độ LH trung bình và biên độ dao động LH giảm mà không làm thay đổi tần số dao động LH. Thêm vào đó, hiệu quả kháng glucocorticoid cũng đã được chứng minh.
Kết quả điều trị: Cải thiện trên cơn đau vùng chậu trên tất cả những đối tượng nghiên cứu mà không có sự thay đổi đáng kể về mức độ bệnh được đánh giá bằng phương pháp soi ổ bụng.
Chúng tôi đã cố gắng làm giảm sự phát triển của khối u xơ tử cung với liều 50mg RU 486 /ngày / 3 tháng trên 10 bệnh nhân. Kích thước khối u giảm khoảng 22% sau 4 tuần, 39% sau 8 tuần và 49% sau 12 tuần điều trị. Nồng độ LH, androstenedione và testosterone/huyết thanh đều tăng trong 3 tuần đầu điều trị và sau đó trở lại giới hạn bình thường.
Kết luận : Dùng RU486 hằng ngày sẽ gây ức chế sự rụng trứng, mất chu kỳ kinh nguyệt, cải thiện triệu chứng đau trong lạc nội mạc tử cung và giảm kích thước của khối u xơ tử cung. ức chế rụng trứng mà không ảnh hưiởng đến nồng độ oestrogen và có thể dự phòng lâu dài trong quá trình điều trị các bệnh về buồng trứng phụ thuộc steroid.
15
Fertil Steril 1995 Jul;64(1):187-90
[Tác dụng làm giảm kích thước của khối u xơ tử cung của thuốc kháng progesterone RU 486: Liều đáp ứng hiệu quả]
Murphy AA, Morales AJ, Kettel LM, Yen SS.
School of Medicine, department of Reproductive Modicine, University of california, San Diego, La Jolla, USA.
Mục Tiêu:
Nhằm nghiên cứu sự đáp ứng với u xơ tử cung của 3 liều, hằng ngày RU 486 (5, 25, và 50mg).
Mô hình:
Thử nghiệm trên những phụ nữ được chẩn đoán u xơ tử cung .
Nơi tiến hành nghiên cứu
TTYT San Diego của ĐH California
Đối tượng:
10 bệnh nhân đã chẩn đoán xác định u xơ tử cung được điều trị bằng 50 mg RU 486 hằng ngày/ 3 tháng. 11 bệnh nhân được chỉ định 25mg RU486 hằng ngày và 9 bệnh nhân với 5mg RU486 trong 12 tuần.
Đánh Giá Kết Quả:
Thay đổi kích thước của khối u được đánh giá bằng siêu âm tại thời điểm bắt đầu nghiên cứu và hàng tháng sau đó.
Xét nghiệm máu để đánh giá các chỉ số huyết học, sinh hóa và nồng độ Hormon được thực hiện thường xuyên.
Lấy nước tiểu 24 giờ để theo dõi lượng cortisol và creatinine tại thời điểm bắt đầu nghiên cứu và hàng tuần trong 12 tuần .
Kết Quả :
Liều 50mg RU 486 kích thước khối u giảm còn 78,1%±4,8% so với kích thước ban đầu sau 4 tuần, 60,5%±6,6% sau 8 tuần và 51±9,2% sau 12 tuần trị liệu.
Với liều hàng ngày 25 mg RU 486, kích thước khối u so với ban đầu khoảng 76,3%±5% sau 4 tuần, 54%±5,1%: sau 8 tuần, và 44%±5% sau 12 tuần. ở liều 5mg RU 486 kích cỡ khối u giảm 80,6%±8,3% so với ban đầu sau 4 tuần, 63,7%±14,6% sau 8 tuần, và 74,4%±19,8% sau 12 tuần điều trị.
Kết Luận:
Với liều trị liệu 25mg mifepristone hằng ngày sẽ tạo ra một đáp ứng lâm sàng có ý nghĩa là giảm 50% kích thước khối u.
16
J Reprod Med 1998 Jul; 43(7): 551-60
[Mifepristone : Liệu pháp hỗ trợ trong ung thư và các rối loạn liên quan].
Koide SS.
Center for Biomedical Research, Population Council, New York, NK 10021, USA.
Mục tiêu:
Nhằm đánh giá hiệu quả của mifepristone, một chất đối kháng với progesterone và glucorticoids, trong điều trị bệnh ung thư và các rối loạn chức năng sinh sản.
Thiết Kế :
Thử nghiệm lâm sàng chỉ định mifepristone điều trị u xơ tử cung, ung thư vú, lạc nội mạc tử cung và u màng não.
Mifepristone là chất đối kháng mạnh tại receptor progesterone và glucocorticoid, là chất chủ vận từng phần khi sử dụng riêng lẻ. Mifepristone có hiệu quả tránh thai và gây sẩy thai. Thêm vào đó, Mifepristone còn được chỉ định trong điều trị các bệnh liên quan đến thai nghén và chức năng vỏ thượng thận.
Kết quả nghiên cứu lâm sàng cho thấy Mifepristone có thể làm giảm đau trong vài trường hợp.
Mifepristone có thể được dùng như một liệu pháp bổ trợù trong một vài trường hợp u màng não không thể phẫu thuật cắt bỏ khối u và u cơ trơn mà các trường hợp này khó trị liệu bằng những phương pháp: hoá trị liệu, nội tiết tố và chiếu xạ. Trong trường hợp lạc nội mạc tử cung lan rộng, mifepristone được chỉ định trong những trường hợp đau khó chữa. Tuy vậy, hiệu quả của nó trên tổ chức thương tổn là rất nhỏ. Trong điều trị ung thư vú di căn và không thể cắt bỏ, mifepristone có thể được chỉ định sau hoá trị liệu và/hoặc chiếu xạ hoặc phối hợp với một tác nhân khác. Trong hội chứng Cushing, mifepristone có thể được chỉ định để điều trị di chứng không mong muốn của sự tăngù quá mức cortisol (thí dụ : chứng rối loạn thần kinh ). Mifepristone không hiệu quả hoặc hiệu quả rất nhỏ trên những thương tổn của tuyến thượng thận và tuyến yên. Tác dụng không mong muốn khi dùng mifepristone lâu dài là không đáng kể.
Trong quá trình điều trị với mifepristone, có thể xuất hiện các triệu chứng tương tự như trong hội chứng Addison mặc dầu nồng độ ACTH và Cortisol máu tăng .
Kết Quả:
Điều trị u cơ trơn với liều 25 hoặc 50 mg/ngày mifepristone sẽ làm giảm 25-49% kích thước khối u. Điều trị lạc nội mạc tử cung với liều hằng ngày 50-100 mg mifepristone làm giảm cơn đau vùng chậu và triệu chứng co cứng cơ tử cung, mức độ thương tổn giảm đến 55%. Điều trị ung thư vú di căn với liều 200-400mg/ngày chỉ đáp ứng một phần. Điều trị u màng não với liều 200-400 mg/ngày, mifepristone cải thiện trên khoảng 25% đối tượng nghiên cứu.
Kết Luận:
Lợi ích của Mifepristone là được dùng như một thuốc điều trị bổ trợ trong các bệnh lý sau:
-U không phẫu thuật được, khối u tuyến nội tiết
-Các rối loạn sinh sản ở nữ giới, những rối loạn mà khó điều tri bằng hóa chất và tia xạ
17
[Làm chín cổ tử cung trước khi tiến hành thủ thuật nạo thai dưới 3 tháng đầu thai kỳ ]
Singh K, Fong YF.
Department of Obstetrics & Gynaecology, National University Hospital, Singapore.
obgkuldi@nus.edu.sg
Trên thế giới, nạo hút thai là phương pháp được lựa chọn khi muốn phá thai ngoài ý muốn trong 3 tháng đầu của thai kỳ. Làm chín cổ tử cung trước khi nạo thai sẽ làm giảm nguy cơ tổn thương cổ tử cung bởi vì cổ tử cung sẽ mềm hơn và giãn nở dễ dàng hơn. Qua nhiều năm, một số phương pháp làm mềm cổ tử cung hiệu quả trở nên giá trị như: nong thẩm thấu; kháng progesterone và prostaglandins. Trong những phương cách này, prostaglandins vẫn là một lựa chọn rộng rãi nhất để làm chín cổ tử cung. Tuy nhiên, nhiều dẫn xuất tự nhiên và tổng hợp của prostaglandins hoặc đắt tiền hoặc kèm theo những tác dụng phụ rắc rối.
Gần đây hơn, misoprostol- một dẫn chất của Prostaglandin E ra đời, được sử dụng để điều trị các bệnh về tiêu hoá (loét dạ dày tá tràng...) và nó cũng được chứng minh là có tác dụng làm chín cổ tử cung và rất dễ sử dụng, giá thành thấp mà hiệu quả cao. Thực tế có thể dùng uống hoặc đặt âm đạo liều 400mcg misoprostol trước 3 giờ thực hiện thủ thuật nạo thai đều có tác dụng làm chín cổ tử cungồ. Giờ đây, dùng misoprostol để làm chín cổ tử cung đã được cả thế giới chấp nhận.
Trong tương lai, misoprostol sẽ được chỉ định rộng rãi trong thực hành sản khoa.